Bến xe nơi phố huyện cũ chiều 30 Tết vắng như chùa Bà Đanh.
Gọi là “phố huyện” cho sang, chứ thực ra cái danh xưng ấy đã mất từ khi có quyết định sáp nhập đơn vị hành chính, mang theo cả sự sầm uất, nhộn nhịp của những đoàn xe công vụ, những quán cơm bụi nghi ngút khói và cả những vị khách sộp đi đường dài. Những dãy nhà Ủy ban huyện cũ tường vàng ố, mái ngói rêu phong giờ đứng im lìm, cửa đóng then cài, nhìn ra con đường nhựa loang lổ ổ gà với vẻ cam chịu mệt mỏi.
“Về thôi ông Hùng ơi! Ba mươi Tết rồi, ma nó còn không thèm đi xe ôm chứ nói gì người”.
Lão Thái, đồng nghiệp của ông Hùng, vừa nổ máy con Wave Tàu nát bươm vừa hét lên trong tiếng pô nổ đanh. “Qua mới ăn con lô, về làm cút rượu cho ấm người đi, tôi mời”.
“Thôi ông về trước đi. Tôi nán tí nữa. Kiếm mớ rau đã”. Ông Hùng xua tay.
Tiếng xe lão Thái xa dần rồi mất hút sau màn mưa bụi. Chỉ còn lại mình ông Hùng với con đường vắng lặng.
Ông thò tay vào túi quần, móc ra một nắm tiền lẻ nhàu nhĩ, vuốt phẳng phiu từng tờ một trên mặt đồng hồ xe máy. Tổng cộng bốn mươi bảy nghìn.
Cả một ngày 30 Tết, ông chỉ chạy được đúng hai cuốc khách ngắn. Một cuốc chở bà già đi chợ mua lá dong, một cuốc chở thùng bia cho quán nhậu đầu dốc.
Ông thở hắt ra một làn khói trắng đục, tan loãng vào không trung. Bốn mươi bảy nghìn. Không đủ mua một cành đào chiều 30, chứ đừng nói đến chuyện thế này thế nọ. Nhưng đói thì đói, cái bàn thờ gia tiên đêm giao thừa không thể lạnh lẽo được.
Ông Hùng khởi động chiếc Dream già nua, làm nó ho khù khụ mấy tiếng rồi mới chịu nổ máy.
***
Chợ chiều 30 vãn người, nhớp nháp bùn đất và rác rưởi. Những đống lá dong rách vứt bừa bãi, những quả bưởi thối lăn lóc, những cành đào ế bị vứt chỏng chơ bên vệ đường như củi khô. Người bán hàng hối hả dọn dẹp, mặt mày ai nấy đều hằm hằm vì ế ẩm, hoặc mệt mỏi rã rời muốn về nhà thật nhanh. Loa truyền thanh đầu chợ oang oang phát bài “Năm qua đã làm gì”, tiếng nhạc vui tươi nhảy múa trên cái nền ảm đạm của phiên chợ tàn nghe sao mà chua chát.
Ông Hùng dựng xe ngay ngắn ở căn chòi bảo vệ cổng chợ, rút chìa khóa bỏ túi, rồi chắp tay sau lưng, đi bộ vào trong. Dáng đi của ông khoan thai, đĩnh đạc, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng. Nhìn ông lúc này, chẳng ai bảo là một lão xe ôm nghèo hèn, mà giống một ông giáo già, hay một bậc túc nho đang đi dạo thưởng ngoạn cảnh xuân.
Ông lách qua những hàng bán cây cảnh uốn éo đủ thế rồng phượng, đi thẳng xuống cuối chợ, nơi những người phụ nữ Dao từ trong bản sâu gùi hàng ra bán. Ở một góc khuất, dưới tán mái che bằng ni lông xanh rách tướp, một bà cụ đang ngồi co ro bên đống mía tím.
Ông Hùng dừng lại, mắt sáng lên. Đây là giống Mía tím chính gốc vùng cao: Vỏ tím sẫm, dóng dài, mắt mía nhỏ ẩn sâu vào trong thân. Loại mía ngọt đậm, và quan trọng nhất là nó có cái chất cứng cỏi của cây rừng.
Ông Hùng ngồi xổm xuống, nheo mắt ngắm nghía từng cây.
“Cụ bán thế nào?” Ông hỏi, giọng trầm ấm.
“Mười nghìn một cây. Mía nương đấy, không phải mía bãi sông đâu”. Bà cụ người Dao móm mém trả lời, tay vẫn thoăn thoắt têm trầu.
Ông Hùng đưa bàn tay chai sạn nhẹ nhàng đỡ lấy phần ngọn mía, nơi chùm lá xanh mướt vẫn còn nguyên vẹn. Theo quan niệm của người Tày, lá mía là tóc, là mũ mão của các cụ. Lá mà rách tướp thì các cụ về ăn Tết mặt mũi nào nhìn con cháu? Ông vuốt nhẹ từng phiến lá sắc lẻm, lau đi những giọt nước mưa đọng trên đó.
Rồi ông dựng cây mía xuống đất, gõ gõ tay vào thân mía.
Cộp… Cộp…
Ông Hùng gật gù. “Mía ngon đấy cụ ạ! Cây gậy thế này thì ông bà chống qua chín suối mười đèo cũng không sợ gãy”.
Ông chọn đủ bốn cây mía đều tăm tắp, thân thẳng đứng, vỏ tím than phủ một lớp phấn trắng mờ ảo như sương khói. Bốn cây tượng trưng cho “tứ trụ”, cho “bốn phương”, cho “bốn mùa”.
“Con gửi tiền cụ”. Ông rút trong túi ra vài tờ tiền hơi nhàu nát đưa cho bà cụ.
“Ơ cái thằng này, bốn mươi, mày đưa bốn mươi bảy nghìn à?”
“Cụ cầm lấy mua thêm miếng trầu. Mía đẹp lắm cụ ạ. Mía thế này mới có hồn”.
Ông Hùng vác bó mía lên vai. Tư thế vác mía của ông cũng lạ. Ông vác nó trên vai phải, lưng thẳng tắp, tay giữ nhẹ phần gốc, đầu ngọn mía vươn cao lên trời, bước đi hiên ngang giữa cái chợ chiều nhớp nháp.
***
Con đường mòn dẫn vào bản ngoằn ngoèo nằm giữa đồi mận lên hoa trắng xóa. Chiếc xe Dream gầm rú, văng bùn tung tóe mới bò lên được con dốc dẫn vào nhà.
Ngôi nhà sàn của gia đình ông là một ngôi nhà sàn cổ, dựng bằng gỗ nghiến từ thời ông nội ông để lại. Qua bao nhiêu nắng mưa, gió bão, những thớ gỗ đã chuyển sang màu đen bóng.
Nhưng lại gần mới thấy cái vẻ già nua, rệu rã của nó: Vách nứa đã mục, thủng lỗ chỗ. Cột nhà dù là gỗ nghiến nhưng chân cột kê trên đá tảng cũng đã bắt đầu bị mối xông, đùn ra những đống mùn cưa vàng khè. Cả ngôi nhà toát lên một vẻ u tịch, cổ kính nhưng nghèo túng đến nao lòng.
Bà Lành vợ ông đang lúi húi nhặt những thanh củi khô dưới gầm sàn để chuẩn bị nhóm lửa đêm 30. Bà là người đàn bà Tày thuần hậu, quanh năm chỉ biết cái nương cái rẫy. Trời tối quá, bà phải quờ quạng bằng tay.
Chợt tay bà chạm phải một cái gì đó mềm mềm, ấm ấm, đang run lên bần bật sau đống củi mục.
“Á!”
Bà Lành giật mình, đánh rơi nắm củi trên tay. Bà nheo đôi mắt kèm nhèm vì khói bếp, cố nhìn vào bóng tối.
“Ai? Ai nấp ở đấy?” Giọng bà run run, tay phải đã vớ lấy con dao đi rừng đeo bên hông theo phản xạ.
Một cái bóng đen lồm cồm bò ra, rồi sụp xuống dưới chân bà.
“Mẹ... là con... thằng Vinh đây mẹ ơi...”
Bà Lành sững người. Thằng Vinh? Thằng con trai quý tử đã bỏ đi biệt tích nửa năm nay?
Bà chưa kịp định thần thì từ sau đống củi, một cái bóng nữa cũng lập cập bước ra, tay ôm khư khư lấy cái bụng đang vểnh lên sau lớp áo khoác rộng thùng thình.
“Mẹ... con nữa...” Cái Mơ lên tiếng.
Hai đứa con của bà. Hai khúc ruột của bà. Thằng Vinh một bên mắt sưng húp, tím bầm, chân đi tập tễnh, máu rỉ ra từ vết rách ở đầu gối thấm đen cả ống quần bò bạc phếch. Cái Mơ thì tóc tai rối bù, mặt xanh như tàu lá chuối, môi thâm tím, toàn thân run lên cầm cập vì lạnh và vì sợ.
Bà Lành đứng chết lặng. Trái tim người mẹ thắt lại, đau như ai cầm dao cứa từng nhát. Bà muốn gào lên, muốn mắng chửi chúng nó một trận cho hả giận. Vì chúng nó mà nhà bà khánh kiệt, vì chúng nó mà ông Hùng phải đi làm xe ôm để kiếm thêm thu nhập, phải cúi mặt trước người làng.
Nhưng khi nhìn thấy ánh mắt hoảng loạn của thằng Vinh, nhìn thấy bàn tay cái Mơ đang run rẩy xoa lấy cái bụng bầu, cơn giận của bà tan biến đâu mất. Bà bước tới, ôm chầm lấy cả hai đứa vào lòng. Bà lấy cái khăn trên đầu quàng vội lên cổ cho cái Mơ. Bà cúi xuống, dùng vạt áo chàm thô ráp lau đi vệt máu khô và bùn đất trên mặt thằng Vinh.
“Mẹ... bố... bố có nhà không?” Thằng Vinh lắp bắp, giọng lạc đi vì sợ. “Bố mà thấy... bố đánh chết bọn con...”
“Không có. Bố đi chợ chưa về”. Bà Lành nói dối. “Lên nhà đi. Ngồi đây lạnh, gió độc nó ngấm vào người bây giờ”.
“Nhưng... mẹ ơi... bố…” Cái Mơ nấc lên.
“Sợ cái gì! Có mẹ đây rồi!”
Bà lùa hai đứa con lên cái cầu thang gỗ dẫn lên nhà sàn đã mòn vẹt, trũng xuống ở giữa. Mỗi bước chân của ba mẹ con bước lên, cầu thang lại kêu lên những tiếng cót... két...
Bà Lành đẩy cửa liếp. Cả ba bước vào gian nhà sàn rộng thênh thang, trống hoác. Gió lùa từ cửa sổ bên này sang cửa sổ bên kia. Chẳng có tiện nghi gì đáng giá ngoài một cái chạn bát bằng tre cũ kỹ, một cái chiếu cũ trải giữa sàn, và một cây đàn tính được treo ngay ngắn ở vị trí trang trọng nhất trên vách. Bầu đàn đã lên nước màu cánh gián, cần đàn bằng gỗ dâu dài thon thả vươn lên như cổ hạc. Cây đàn im lìm, phủ một lớp bụi mờ, nhưng vẫn toát lên vẻ uy nghiêm, lặng lẽ quan sát những kẻ tội đồ vừa bước vào.
Bà Lành đi thẳng vào giữa nhà, nơi có cái bếp kiềng ba chân chôn sâu trong khuôn đất nện.
Bà Lành ngồi thụp xuống, vùi những thanh củi khô vào lớp tro tàn vẫn còn giữ chút hơi ấm từ buổi trưa nấu bếp.
Phù... phù...
Hai má bà phồng lên, tro bếp bay lả tả, bám đầy vào mái tóc hoa râm. Ngọn lửa bén vào củi nứa, bùng lên. Ánh lửa vàng cam nhảy múa, xua tan bóng tối u ám, phả hơi ấm hừng hực vào mặt, vào tay chân tê cóng của hai đứa con.
Bà Lành bắc một nồi nước to lên bếp rồi thả vào đó một nắm lá rừng.
“Rửa cái mặt đi cho sạch cái bụi bặm ngoài đường”. Bà lầm bầm.
Mùi hương thơm nồng nàn, thanh khiết bắt đầu bốc lên theo làn hơi nước, quyện với mùi khói bếp ngai ngái, tạo thành một thứ mùi vị đặc trưng của Tết, của sự đoàn viên.
Thằng Vinh hơ đôi bàn tay sưng húp trên ngọn lửa. Cái Mơ tựa đầu vào vai mẹ, nhắm mắt lại hít hà cái mùi hương quen thuộc mà suốt mấy tháng trốn chui trốn lủi nó thèm khát đến cháy lòng.
Ngoài trời, mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Nhưng ở bên trong, quanh bếp lửa nhà sàn, một sự bình yên mong manh đang nhen nhóm trở lại.
Tiếng bước chân nặng trịch nện lên cầu thang gỗ khiến cả căn nhà sàn rung lên bần bật. Thằng Vinh co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu, theo phản xạ lùi sâu vào góc tối. Cái Mơ nấp sau lưng mẹ, hai tay ôm chặt lấy bụng, răng va vào nhau cầm cập.
Cánh cửa liếp mở ra. Ông Hùng đứng sừng sững ở ngưỡng cửa, chắn ngang luồng gió lạnh thốc vào nhà. Trên vai ông, bó mía tím vươn dài đụng lên mái ngói âm dương.
Ông nhìn lướt qua mâm cơm đạm bạc, nhìn vợ, rồi ánh mắt dừng lại ở hai cái bóng run rẩy trong góc nhà.
Vinh nuốt nước bọt, cố lấy hết can đảm, định lết đôi chân đau ra đỡ bó mía cho bố.
“Bố...”
“Ngồi đấy!”
Tiếng quát như sét đánh ngang tai khiến thằng Vinh ngã dúi dụi xuống sàn.
Ông Hùng không bước vào ngay. Bàn tay ông nắm chặt lấy thân mía đến mức gân xanh nổi lên chằng chịt. Ông muốn vứt bó mía đi, muốn túm lấy cổ áo thằng con trời đánh mà hỏi xem nó đã nướng bao nhiêu tiền của cái nhà này.
Nhưng rồi, ánh mắt ông chạm vào cái bụng của cái Mơ, và vết máu khô trên đầu gối thằng Vinh.
Ông nhắm nghiền mắt lại, hít một hơi dài, nén chặt cơn uất hận xuống đáy lòng rồi vứt bó mía xuống sàn nhà. Ông không nói một lời, lầm lũi bước đến bàn thờ, lôi cuộn lạt giang trong túi ra. Đôi tay chai sạn run rẩy buộc từng cây mía vào chân bàn thờ. Động tác của ông thô bạo, giật cục, như trút hết nỗi bực dọc vào từng nút thắt.
Bốn cây mía tím được dựng lên, che chở cho bài vị tổ tiên. Ông lùi lại, nhìn trân trân vào bát hương nguội lạnh, vai rung lên từng chặp.
Một lúc lâu sau, ông mới quay lại, giọng khản đặc.
“Bà nó dọn mâm đi”.
Bà Lành vội vàng bê cái mâm nhôm đã bày sẵn đồ cúng lên. Một đĩa xôi gấc đỏ au, một bát canh măng đắng nấu với mấy cái cổ cánh gà, và một đĩa bánh chưng.
Năm nay nhà ông bà Hùng Lành không có tiền mua thịt ba chỉ, cũng chẳng có đậu xanh. Bà phải vét những hạt gạo nếp dưới đáy hũ, trộn với ít đỗ đen, gói trong những tàu lá dong rách nát, ế chỏng ế chơ mà ông Hùng đi “xin” của những người bán hàng ở chợ bỏ lại.
Ông Hùng ngồi khoanh chân trước bàn thờ, ngước mắt nhìn lên vách nứa, nơi cây đàn tính đang treo im lìm trong bóng tối.
Đã lâu lắm rồi, từ ngày người ta coi tục cúng bái là “mê tín”, “dị đoan”, ông Hùng đã treo đàn lên vách. Cây đàn phủ một lớp bụi mờ, dây đàn chùng xuống như nỗi buồn của người nghệ nhân thất thế.
Ông đứng dậy, với tay hạ cây đàn xuống.
Thằng Vinh và cái Mơ nín thở. Ngày xưa, mỗi khi bố cầm đàn là một lần bố đi làm lễ, là nhà có thịt có gạo. Còn hôm nay, bố cầm đàn để làm gì giữa cái đêm 30 nghèo đói này?
Ông Hùng ngồi xuống bên bếp lửa, đặt bầu đàn lên đùi rồi từ từ lau bụi trên cần đàn, bầu đàn.
Tình... Tang...
Ông búng ngón trỏ vào dây đàn. Một âm thanh khô khốc, lạc điệu vang lên.
“Đàn lâu không gảy dây chùng. Người lâu không rèn giũa thì hỏng nết”. Ông lẩm bẩm, giọng nghe xót xa.
Ông bắt đầu lên dây. Tay trái ông vặn trục gỗ, tay phải ông búng dây. Mắt ông nheo lại, tai ghé sát vào bầu đàn để nghe cái âm vang từ bên trong.
Tình... tình... tang...
Tiếng đàn dần dần trong trẻo trở lại.
Ông Hùng cất tiếng hát một khúc Then cổ bằng tiếng Tày.
“Mời vua Bếp vua Nồi... Mời tổ tiên ông bà về... Cầu cho năm mới trâu bò đầy chuồng thóc lúa đầy bồ... Kẻ lạc đường biết lối về nhà... Kẻ lầm lỗi được rửa sạch oan khiên...”
Tiếng đàn Tính quyện với tiếng lửa nổ lép bép, tạo thành một bản hòa tấu bi tráng và linh thiêng.
Thằng Vinh ngồi bó gối, gục đầu xuống. Tiếng đàn làm nó nhớ những đêm bố địu nó trên lưng đi làm lễ. Nó nhớ cái cảm giác tự hào khi thấy người ta kính cẩn cúi chào bố. Sao bây giờ nó lại ra nông nỗi này? Sao nó lại biến thành một thằng vỡ nợ, hèn nhát, làm ô uế cái thanh danh của bố?
Nước mắt nó trào ra, nóng hổi, rơi xuống mu bàn tay bầm tím.
Cái Mơ thì dựa đầu vào vai mẹ, nghe tiếng đàn mà thấy như được an ủi. Tiếng đàn như bàn tay đang xoa dịu đứa trẻ đang sợ hãi trong bụng nó.
Ông Hùng hát xong một đoạn, tiếng đàn ngưng bặt. Dư âm vẫn còn ngân nga mãi trong lồng ngực những người ngồi quanh bếp lửa. Ông buông cây đàn xuống, nhìn hai đứa con đang khóc rưng rức, khuôn mặt đờ đẫn của ông giãn ra đôi chút, vẻ già nua ập đến xâm chiếm lấy từng nếp nhăn.
“Nín đi”. Ông nói cộc lốc, không nhìn chúng nó. “Khóc cái gì mà khóc. Còn người là còn Tết”.
Bà Lành lén quệt nước mắt, xới xôi ra bát.
“Thôi, ăn đi con. Ăn miếng xôi đỏ cho nó đỏ cái vận. Bố mày đã mở lời rồi, là bố mày thương đấy”.
Cả nhà ngồi ăn bữa cơm tất niên đạm bạc. Món bánh chưng mót dẻo quánh, thơm lừng vị lá dong. Món canh măng đắng ngắt đầu lưỡi nhưng ngọt hậu ở cuống họng.
Bên ngoài, tiếng pháo hoa bắt đầu nổ đì đùng nơi trung tâm xã. Nhưng trong ngôi nhà sàn cũ nát, tiếng đàn tính vẫn đang tiếp tục vang vọng, hàn gắn những vết rạn nứt của một gia đình tưởng chừng đã vỡ vụn.
***
Sương mù sáng mùng Một bao phủ lấy thung lũng, nuốt chửng những ngọn đồi mận, làm nhòe đi ranh giới giữa trời và đất.
Ông Hùng dậy từ lúc gà chưa gáy. Ông đã đun xong siêu nước sôi trên bếp than hồng. Hôm nay ông mặc bộ quần áo lễ, ngồi chỉnh tề bên bàn trà, trước mặt là bộ ấm chén sứt vòi.
Ông tráng ấm, chuyên trà. Dòng nước sôi trút xuống, hơi nước bốc lên nghi ngút, mang theo hương thơm chát ngọt của loại chè shan tuyết cổ thụ.
“Dậy cả đi. Uống chén trà đầu năm”.
Thằng Vinh và cái Mơ lục đục chui ra khỏi chăn chiên. Chúng rửa mặt bằng nước lạnh cho tỉnh ngủ rồi rón rén ngồi xuống quanh ấm trà.
Ông Hùng đẩy chén trà về phía các con.
“Uống đi. Trà trên đỉnh núi, hứng sương mà lớn, không phân không thuốc”.
Thằng Vinh nâng chén trà lên, nhấp một ngụm. Vị chát làm đầu lưỡi nó co lại, nhưng ngay sau đó, một vị ngọt dịu lan tỏa trong khoang miệng, thấm xuống tận ruột gan. Nó lén nhìn cái ấm tích trên bàn.
Đó là cái ấm sứ cũ kỹ và xấu xí mà bố nó đã dùng từ trước cả khi nó biết thở. Cái vòi ấm đã bị mẻ một miếng to, lộ ra lớp xương gốm màu nâu sẫm, thô ráp như vết sẹo lồi trên da thịt. Nhưng vết mẻ ấy đã được ai đó mài cho nhẵn thín, bóng loáng.
“Mày biết tại sao bố không vứt cái ấm này đi không?” Ông Hùng bất chợt hỏi, tay ông miết nhẹ lên vết sứt ở vòi ấm.
Vinh lắc đầu, sợ sệt đặt chén trà xuống.
Ông Hùng nhìn vào dòng nước trà sóng sánh, giọng trầm đục như vọng về từ một cõi xa xăm nào đó: “Cái vết sứt này là do ông nội mày làm ra đấy. Năm ấy ông nội mày say rượu, ném cái ấm vào vách nhà rồi bỏ đi biệt tích. Để lại bà nội mày với cái bụng bầu”.
Ông ngừng lại một chút.
“Người trong bản bảo bà nội mày chửa hoang. Họ bảo ông nội mày chỉ là thằng khố rách áo ôm, tạt qua đời bà mày đúng một đêm trăng suông rồi đi mất hút vào mặt trận, sống chết chẳng ai hay. Bà nội mày sinh bố ra trong cái tiếng nhổ toẹt của người đời, rồi bà mày cũng đi thanh niên xung phong, bảo là đi tìm ông, rồi cũng nằm lại ở cái khe suối nào đấy chẳng ai tìm thấy xác”.
Thằng Vinh và cái Mơ nín thở. Lần đầu tiên chúng nghe bố kể về ông bà nội, về cái gốc gác đầy thương tổn của dòng họ mình. Hóa ra, bố chúng cũng từng là một đứa trẻ bị bỏ rơi, một sản phẩm của một phút bốc đồng tuổi trẻ, giống như cái thai trong bụng cái Mơ bây giờ, hay món nợ ngu xuẩn của thằng Vinh.
Ông Hùng rót thêm một tuần trà nữa. Dòng nước chảy qua chỗ sứt, hơi toe ra một chút nhưng vẫn rót đầy chén, không rớt ra ngoài giọt nào.
“Bố giữ cái ấm này hơn năm mươi năm nay. Lúc đói khổ, bố định đập nát nó đi cho rồi, vì nhìn nó là nhớ đến người bố tệ bạc, nhớ đến phận mồ côi…”
Ông Hùng ngừng lại, hất hàm về phía thằng Vinh.
“Mày báo nợ bao nhiêu?”
Vinh giật thót mình, chén trà sóng ra tay nóng rẫy.
“Dạ... cả gốc cả lãi... hơn trăm...” Nó lí nhí.
“Bán cái nhà này đi chắc vừa đủ”, ông Hùng nói ráo hoảnh, giọng tỉnh bơ như đang nói chuyện thời tiết.
Cái Mơ òa lên khóc. Thằng Vinh gục đầu xuống bàn, vai rung bần bật.
“Bố nói thế để chúng mày biết đường mà liệu”, ông Hùng chép miệng, rót thêm một tuần trà. “Mày giống ông nội mày. Mày báo nợ, mày làm khổ mẹ, khổ bố”.
Thằng Vinh cúi gằm mặt, nước mắt rơi lã chã xuống chén trà nóng hổi. Vai nó rung lên bần bật.
“Nhưng cái ấm sứt thì vẫn pha được trà ngon”. Giọng ông Hùng đanh lại. “Bố không vứt cái ấm này, thì cũng không vứt mày”.
Vinh ngẩng lên, nhìn bố qua làn nước mắt nhòe nhoẹt. Nó gật đầu lia lịa, nghẹn ngào không nói nên lời.
Ông Hùng thở hắt ra như trút được gánh nặng ngàn cân. Ông cầm dao, hạ một cây mía tím trên bàn thờ xuống.
Xoẹt... Xoẹt...
Tiếng dao róc mía vang lên dứt khoát, sắc gọn trong buổi sáng tĩnh lặng. Lớp vỏ tím cứng, sắc lẻm rơi lả tả xuống sàn gỗ. Lộ ra những dóng mía trắng ngần, mọng nước, căng tràn nhựa sống.
Ông bẻ mía thành từng khúc, chia cho vợ và hai con.
“Ăn đi. Lộc của các cụ đấy. Mía người Tày mình vỏ cứng, đốt dày, nhưng qua được cái đốt thì ngọt lịm. Đời bố con mình đang ở cái đốt sâu, đốt bệnh. Ráng mà nhai. Qua rồi thì sẽ đến vị ngọt”.
Cả nhà ngồi nhai mía. Tiếng nhai rào rạo, tiếng suýt xoa vì vị ngọt mát lành của thiên nhiên xua đi cái đắng cay của sự đời.
Rồi ông Hùng rút ví, lấy ra một tấm ảnh đen trắng nhỏ bằng bao diêm, đã ố vàng, mép ảnh quăn queo. Trong ảnh là một thằng bé đầu trọc lóc, mặc cái áo vá vai, đứng nép vào chân một bà cụ già nua. Đôi mắt thằng bé to tròn, ngơ ngác, chứa đầy sự thèm khát tình thương.
Ông lật mặt sau tấm ảnh. Dòng chữ viết bằng mực tím Cửu Long ngày xưa, nét chữ nguệch ngoạc của trẻ con mới tập viết.
“Con ước ông Bụt cho gặp bố mẹ một lần”.
Ông Hùng nhìn dòng chữ ấy. Suốt 50 năm qua, ông đã sống với tâm thế của đứa trẻ mồ côi ấy. Ông oán trách số phận, oán trách bố mẹ bỏ rơi mình, oán trách ông Bụt không có thật. Ông đã cố gắng trở thành thầy cúng, làm cầu nối với thần linh, cũng chỉ vì hy vọng mong manh tìm được sự cứu rỗi cho chính mình.
Nhưng giờ đây, nhìn hai đứa con đang ngồi ăn mía ngon lành, nhìn người vợ hiền hậu đang cười móm mém, ông chợt bừng tỉnh.
Bố mẹ ông đã trả nợ cho đời. Ông Bụt cũng chẳng ở trên mây trên gió nào cả.
Tay ông run run đưa tấm ảnh cho thằng Vinh xem.
“Ngày xưa bố mồ côi, bố chỉ mong có ông Bụt hiện lên cứu vớt đời mình. Nhưng đợi mãi đến bạc cả đầu chẳng thấy đâu… Nhà mình dột thì lợp lại. Các con ngã thì bố đỡ dậy. Thằng Vinh nợ nần, ra Giêng bố con mình cùng làm mà trả. Cái Mơ chửa, cứ đẻ ra đấy, cả nhà cùng nuôi. Có bố đây rồi, không phải sợ gì cả”.
Nắng xuân bắt đầu xuyên qua kẽ lá cọ, chiếu những tia sáng vàng óng như tơ xuống sàn gỗ đen bóng.
Ông Hùng ngồi dựa lưng vào cột cái, tay ôm cây đàn tính vào lòng. Ông lại gảy lên một khúc nhạc vui.
Tiếng đàn hòa vào tiếng gió xuân, bay qua cửa sổ, bay ra vườn mận, nơi những nụ hoa trắng muốt vừa bung nở tinh khôi sau cơn mưa xuân./.
Chức năng bình luận chỉ dành cho độc giả đã xác minh tài khoản.
Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập ngay.