Tư Liệu Viết Truyện Trung
XƯNG HÔ THEO TUỔI TÁC Ở CỔ ĐẠI
– – 0 – –
Ở cổ đại bình thường mọi người hay thấy người ta xưng hô như là: Oa oa, tiểu hài, nhi đồng, hài đồng, hài tử, nam tử, nữ hài, lão nhân, nam nhân…đây chỉ là gọi theo kiểu dự trù số tuổi bằng mắt thôi. Chứ người có học thức họ sẽ dùng theo “công thức” bên dưới tôi sắp chia sẻ nè. “Công thức” này đều có trong mấy cuốn sách nổi tiếng của TQ như Luận Ngữ, Tử Viết, Lễ Ký…
Ngoài ra khi dẫn truyện, mọi người cũng có thể dùng đến. Ví dụ như: Các cô nương ở độ tuổi đậu khấu này đều được săn đó nhiều nhất.
– – 0 – –
Raw: douyin, baidu
Vừa chào đời: Anh nhi, xích tử, khi tới thế gian này trên da mang theo màu đỏ . Trong Lão Tử nói, hàm đắc chi hậu, bỉ ư xích tử, cốt nhược tiên nhu nhi ác cố (người đức hạnh thâm hậu thuần túy như trẻ sơ sinh, xương cốt có yếu nhưng tay nhỏ luôn nắm chặt thành quyền mang theo lực lượng chân bổn nhất trong sinh mệnh), thường nói xích tử chi tâm chính là như thế. Sơ độ (trong Ly Tao - 《离骚》, 皇览揆余初度兮,肇锡余以嘉名, cha ôm con ngay lúc lọt lòng mới biết mà đặt cho con cái tên tốt đẹp. Sau này sơ độ biến thành nhã xưng của ngày sinh nhật. Mà cổ nhân có thói quen dùng hư tuế kế linh. VD sn 19t được gọi là 20 sơ độ, dường như ở trong tính toán của thời quang thêm được một phần hứa hẹn với tương lai.
Ra đời ngày thứ ba: Thang bính chi hội 汤饼之会. Lúc này sẽ tổ chức buổi tiệc gọi là thang bính yến, mời mọi người cùng mừng đứa con mới chào đời. Thang bính này chính là mì sợi nấu trong sinh nhật hiện tại. Thi nhân nhà Đường Lưu Vũ Tích từng vì hậu bối Trương Quán 张盥 viết bài thơ chức mừng: 尔生始悬弧, 尔生始悬弧,我作座上宾。引箸举汤饼,祝词天麒麟. (hồi ức lại tình cảnh Trương Quán còn nhỏ ở thang bính yến, quay đầu lại đã là là đại trượng phu rồi.). Trong câu giữa chữ, đều là thưởng thức và hứa hẹn của trưởng bối đối với vãn bối.
Chưa đầy một tuổi: Cưỡng bão chi anh (tả lót)
Ra đời được 100 ngày: bách túy 百睟.
1 tuổi: Châu túy. Ngay ngày này sẽ cử hành nghi thức trảo châu cho đứa trẻ, thông qua đồ vậy đứa trẻ chọn kỳ vọng hứa hẹn cho tương lai. Nha nha
2-3 tuổi: Hài đề
4-9: Thùy điều (垂髫) xõa tóc
7-8: Điều sẩn(龆龀)
– Nữ hài 7 tuổi: Thỉ sẩn, điều niên (始龀, 髫年)*
– Nam hài 8 tuổi: Thỉ sẩn, điều niên (始龀, 龆年)*
* Hai độ tuổi này căn cứ vào nữ 7, nam 8 sẽ thay răng nên được gọi như thế.
Tầm 10 tuổi: Ấu học chi niên. Trong Lễ Ký viết: nhân sinh thập niên viết ấu học. Từ đó đứa nhỏ bắt đầu đi học
9-13: Tổng giác(总角-Tóc để chỏm ). Trong Thi Kinh viết, tổng giác chi yến, ngôn tiếu yến yến.
Nhi đồng: Thùy kế chi niên( tóc của tiểu hài tử cổ đại xõa ra, suy đó lấy đó để chỉ người chưa thành niên)
Dưới mười tuổi: Hoàng khẩu
Nhi đồng 10 tuổi trở xuống: Hoàng khẩu
Hài đồng mười tuổi: Ấu học – 《 Lễ Ký? Khúc Lễ Thượng 》có viết “Nhân sinh mười năm gọi là ấu, học”. Bởi vì văn tự cổ đại không có dấu nên người ta đọc hai chữ ấu học luôn để gọi mấy bé mười tuổi.
Nữ hài 12: kim thoa chi niên
13- 15: Vũ chước (舞勺)
– Nữ hài 13: đậu khấu chi niên
– Nữ tử tròn 15: cập kê chi niên, thúc phát(buộc tóc)
Nữ tử 16: bích ngọc niên hoa/ phá qua chi niên
Nữ tử 20: Đào lý niên hoa
Nữ tử 24: hoa tín niên hoa
Nữ tử ở tuổi lấy ck: phiếu mai 摽梅. Ý chỉ thanh mai đã chín, từ này xuất từ Thi Kinh.
Nữ tử 30: bán lão từ nương
Nữ tử 40: nhân lão châu hoàng
Nữ tử 50: Tri mệnh chi niên
Nữ tử 60: Hoa giáp chi niên
Thanh thiếu niên 13-15: Vũ thược chi niên 舞勺. Thược là một loại nhạc khí, tư thái ôn uyển
Thanh thiếu niên 15-20: Vũ tượng chi niên 舞象. Lễ Ký ghi, thập hữu tam niên, học nhạc, thông thi, vũ thược, thành đồng, vũ tượng, học xạ ngự. Tượng là dạng múa chứa đầy lực lượng biểu thị cho chiến đấu.
Nam tử 20: Cập quan chi niên/nhược quán
Nam tử 30: nhi lập chi niên **
Nam tử 40: bất hoặc chi niên **
Nam tử 50 tuổi: tri mệnh, thiên mệnh/phi chi (có trong《 Luận Ngữ 》Tử Viết)
Nam tử 60 tuổi: nhĩ thuận, hoa giáp chi niên
70 tuổi: Cổ hi chi niên/cổ lai hi
80-90 tuổi: Mạo điệt chi niên
80 tuổi: Trượng triều
90 tuổi: Thai bối chi niên(鲐背之年)
Trăm tuổi cao thọ: Kỳ di chi niên
Chỉ 120 tuổi: Hoa giáp trọng khai
Chỉ 140 tuổi: Cổ hi song khánh
— 0 – –
Nam nữ gọi chung: Nam xưng tu mi, nữ xưng cân quắc (khăn trùm).
Phu thê mà có một bên đã qua đời: Tang ngẫu.
Lão sư xưng: Ân sư, phu tử.
Học sinh xưng: Môn sinh, thụ nghiệp.
Hoàng mao tiểu tử: kiểu miệng còn hôi sữa, nhãi ranh, mấy thằng choai choai nửa lớn
– – 0 – –
Vong xưng: Xưng hô theo độ tuổi đối với người đã mất
0——20 tuổi: yểu chiết hoặc thương(chết non, chết yểu)
21——30 tuổi: Đoản thọ/ phúc (chết sớm)
31——40 tuổi: Cường thọ/phúc
41——50 tuổi: Ngải thọ/phúc
51——60 tuổi: Chu thọ/phúc
61——70 tuổi: Hi thọ/phúc
71——80 tuổi: Điệt thọ/phúc
81——90 tuổi: Mạo thọ/phúc
91——100 tuổi: Kỳ di/phúc
thời cổ nam nữ xưng hô số tuổi là có khác biệt, bình thường mà nói, nam tính xưng X thọ, mà nữ tính phải không xưng thọ, thường sẽ xưng phúc. Thái Viên thôn ở La Bình Phú Nhạc Vân Nam có một tấm bảng cổ “Kỳ di nhân thụy”, là nói một bà lão họ Vương trong thôn từng sống đến hơn một trăm tuổi, nên mới có tiếng xưng hô này.
Chức năng bình luận chỉ dành cho độc giả đã xác minh tài khoản.
Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập ngay.