Tiếng chuông điện thoại reo trong giấc mơ của tôi. Một kiểu giấc mơ mờ sương; như thể sắp sửa tràn ra ngoài, nhấn chìm ngoại ô thành phố lúc trời còn hậm hực. Tôi đi bộ trong ánh sáng mờ, hai vai có cảm giác ẩm ướt. Trên đầu, mặt trời lên đến cao nhất, nó lèn chặt cái bóng của tôi dưới chân, không sao phân biệt nổi bộ phận cơ thể nào.
- Dậy đi, dậy đi. - Ai đó lay nhẹ lưng tôi, bàn tay mát lạnh.
- Sao thế? - Tôi hỏi, mắt vẫn nhắm.
- Có người gọi anh kìa.
Tôi trở mình. Chẳng vội nghe máy mà nhìn quanh một vòng thao láo. Vợ tôi đang ngủ bên cạnh, nàng mặc bộ pijama hàng chợ có in hoạ tiết bông hoa, trông rất mềm mượt. Hình như nàng mới mua thì phải; tôi có thể ngửi thoáng qua mùi quần áo mới. Trái ngược với bộ đồ mới của nàng, cái màn chống muỗi lại tả tơi đến lạ, khắp nơi chi chít những vết khâu lỗ thủng đủ mọi loại chỉ màu. Trên đỉnh của nó còn có xác mấy con mối và côn trùng bay chết khô. Hất tấm chăn qua một bên, tôi ngồi cạnh mép giường, hai chân cho xuống dưới sàn nhà. Tôi thẫn người một lúc lâu chỉ để nghe tiếng nàng thở. Đôi khi, xen kẽ vào nhịp thở đều đặn của nàng là tiếng phì phò; nó quá yếu để được gọi là ngáy, cũng như quá mạnh để thở.
Không biết tiếng chuông ngắt tự bao giờ, đến khi nó reo lần nữa, tôi nhấc máy ngay. Đó là số của tổng đài với những dãy kí hiệu đặc trưng.
- Mình có một đơn hàng đang chờ nhận, không mất phí. - Bên kia giọng phụ nữ, tuổi chừng bốn mươi. Có tiếng gió thổi rất to.
- Em đang ở nhà, chị ghé qua em đợi trước cổng. - Tôi mô tả nhà mình, kèm theo cái cây lớn trên đầu dốc.
Cái quạt máy đứng im ru, trước và sau khung bảo vệ đóng đầy bụi bẩn. Tôi thử chuyển nút nhưng nó vẫn không thổi gió. Lại đến bật công tắc đèn, hình như nhà đã mất điện. Tôi rửa mặt qua loa rồi ra ngoài sân chờ người giao hàng. Trời nóng kinh khủng, giờ đang là giữa tháng sáu, mấy con ve sầu được thế mà kêu rầu rĩ mãi. Phải chờ đâu đó mười phút thì cô ta mới gọi lại. Tôi có thể thấy cô từ trong sân nhà. Người phụ nữ cũng quan sát xung quanh trong lúc chờ tôi bấm máy; thấy tôi đi ra từ cổng thì chạy xe máy tiến đến. Cô đưa cho tôi một gói hàng bằng bìa carton sơ sài, quấn băng keo khắp nơi. Trên đó ghi địa chỉ và tên người nhận, chứ không có bất cứ thông tin gì về người gửi. Tiền hàng đã được thanh toán từ trước; tôi chỉ đơn giản nhận hàng rồi đi vào nhà.
Hiện là một giờ rưỡi chiều. Tôi quăng hộp hàng trên bàn, rồi đến bếp hâm nóng thức ăn. Lúc trở ra, có vào lại phòng gọi vợ dậy, nhưng nàng mặc kệ, vẫn nằm ngủ một cách thoải mái.
Tiện nói về bản thân: tôi hành nghề nhà báo tự do, hay cộng tác với những tờ báo nhỏ, đưa tin đủ thứ trên đời. Nào là chiến sự ở các nước trên thế giới, chuyện làng quê, và các câu chuyện tình người khác. Đa số đều là báo giật tít, nhưng vì người ta trả tiền nên chịu thôi.
Còn vợ tôi hiện đang làm kế toán cho một công ty in ấn nằm tại trung tâm thành phố, với mức lương khá khẩm hơn nhiều so với mặt bằng chung của các hộ xung quanh. Thế là, ban ngày vợ đi làm, còn tôi thì lo một số việc nội trợ đơn giản. Đôi lúc rảnh rỗi, tôi cũng viết truyện ngắn đặng gửi cho các tờ báo chính thống, nhưng chưa lần nào đạt được sự kỳ vọng của mình. Tất nhiên, tôi có thể đăng chúng lên những tờ báo mình hay làm và giật tít về trình độ của bản thân hay tác phẩm, nhưng chẳng có cớ gì để làm thế cả.
Lúc bóc gói hàng, nàng đã thức giấc. Tôi thấy nàng lấp ló tại cửa phòng, đang duỗi người một cách uể oải. Rồi nàng khịt mũi, buộc tóc đuôi ngựa, sau đó đi ra đằng sau nhà.
Khi mở nắp hộp carton, cái mùi cũ rích xộc lên như thể bản thân vừa chui đầu vào một cái tủ đóng kính từ lâu. Bên trong là ảnh chụp nàng được ép nhựa cứng, đâu đó một chồng còn mới toanh. Những bức ảnh với kiểu màu xưa cũ, chụp nàng thời còn đi học; điểm chung giữa chúng là nét mặt cộc cằn của nàng và kiểu tóc sư tử thắt nơ màu tím bên trái.
Tôi xem đi xem lại chúng nhiều lần, rồi bỏ lại vào trong. Lúc này, nàng đã dọn thức ăn lên trên bàn sẵn, đi đi lại lại mấy vòng liền, dường như cái nóng mùa hè và sự cố mất điện chẳng ảnh hưởng gì đến nàng. Trông rất khỏe khoắn.
- Gì thế? - Nàng hỏi.
- Ảnh. Em xem đi.
Nàng cầm chồng ảnh lên, rồi lần lượt nhìn qua, cả mặt trước và sau. Khi xem xong thì đúng lúc nhà có điện lại; từ đây, có thể nghe rõ tiếng cái quạt máy chạy ro ro trong phòng.
Tôi vào trong tắt quạt, rồi trở ra với chiếc áo ba lỗ mắc rúm ró trên giá treo tường. Người vẫn nhễ nhại mồ hôi, tôi hỏi:
- Ai gửi cho em thế?
- Em tưởng nó là của anh? - Nàng tỏ vẻ hốt hoảng, xem lại tấm ảnh đầu tiên như thể không tin đó là mình. - Em có chụp mấy cái này bao giờ đâu, thật kỳ lạ. Nhưng người bên trong chính là em, thấy cái nơ này không em vẫn còn giữ nó. - Nàng chỉ ngón trỏ vào cái nơ màu tím trong ảnh.
- Chịu thôi. Ăn đi!
Chúng tôi ăn trưa tại phòng khách. Tivi đang chiếu bản tin thời sự, đưa tin một vụ trộm cắp liên hoàn xảy ra ở đầu bên kia thành phố. Người ta báo cáo rằng cư dân đồng loạt khiếu nại về việc có người đột nhập, và đều mất chung một thứ đồ. Những món đồ đó không được liệt vào dạng đắt tiền hay gì, mà đều là đồ dùng thiết yếu hằng ngày. Có nhóm người mất hết móc treo quần áo trong nhà, có nhóm thì lại mất hết chén dĩa… Lạ thay, chẳng có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy đối tượng đã phá khóa hay lén trèo vào từ cửa sổ - cứ như chúng đột ngột bốc hơi khỏi thế giới vậy.
Nàng ăn chậm hơn thường ngày. Đôi lúc, nàng sẽ ngậm mà không nhai, mắt nhìn hờ vào một điểm nào đó trên bàn. Bàn tay nâng chén đũa đứng yên giữa không trung, giống như chúng được nâng đỡ bằng một bức tượng cứng nhắc. Rồi nàng hỏi tôi, sau khi thở dài; tivi cũng chuyển sang dự báo thời tiết.
- Nếu thật sự là em, - Nàng im lặng thoáng chốc, đâm đôi đũa sâu hơn vào phần cơm nguội lạnh trong bát. - thì người ta giữ nó bấy lâu nay để làm gì?
- Đừng nghĩ nhiều, có khi gia đình em đã gửi nó và rồi chúng bị thất lạc, giống như trên phim ấy.
- Nhưng em không nhớ gì cả, anh nhìn kỹ xem: Trông như chúng được cắt ra từ một tấm ảnh lớn, rồi phóng to ra. Đáng lý nó phải mờ nhoè chứ không rõ nét đến vậy.
“Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật các thông tin thời tiết đáng chú ý trong các bản tin tiếp theo. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi.” Cái tivi nói, bấy giờ tôi mới thực sự chú ý đến cử chỉ của nàng trong ảnh. Phải thừa nhận là chúng rất tự nhiên, hay đáng lo ngại hơn trông thật giống chụp lén. Nàng trong ảnh được chụp với đủ loại góc độ, có khi là tiền cảnh và hậu cảnh. Số ít thì nàng lại là trung cảnh, cá biệt một tấm có thể thấy ngón tay người chụp lộ ra trước camera bị làm nhòe thành màu kem nhạt. Duy chỉ tấm này là nàng cười tươi, nét mặt tỏ vẻ hạnh phúc và cái nơ tím lấp ló sau tán cây si cảnh.
Đến giờ đi làm, nàng cất chúng trong tủ bàn trang điểm của mình. Tôi có dặng nàng mua cái màn chắn muỗi mới, nàng gật đầu rồi leo lên xe đi mất. Tôi tắt tivi, trở lại bàn viết rồi mở laptop nhưng không sao viết được gì. Câu chuyện mà tôi đang viết đường như bị mắc kẹt ở chỗ nào đó không thể tiến lên hay lùi xuống, giống như nhận định của một nhà văn mình ưa thích: Ông bảo các câu chuyện chỉ hay ở mở đầu và kết thúc, ở giữa là cái xương sống nhưng nó cũng như sa mạc vậy. Cằn cỗi và nóng bức, nhiều người thì mãi vẫn đi lạc trong đó, đa số họ sẽ chết khô theo cách gọi của ông ta. Nhưng tôi nào có nghĩ nhiều đến vậy, tôi cho rằng cái hay của một câu chuyện chính là cái phần sa mạc này, chứ chẳng phải một ốc đảo hiện ra đâu đó bên kia con đường. Nơi mà những cây chà là xếp thành hàng dài, ngay hàng thẳng lối tựa mấy cây đèn đường vào ban đêm. Dù không phát ra ánh sáng, nhưng bằng cách nào đó người ta vẫn cần chúng hệt cây đèn đường.
Cái sa mạc có đầy những đầu lâu và sương trắng, mỗi bộ hài cốt đều có những câu chuyện của mình và bản thân tôi tin rằng đó là cái hay. Mà biết đâu tôi lại hiểu sai về ý của ông ta thì sao?
Điện thoại lại reo trên bàn. Đó là số của nàng, tôi nhấc máy ngay trong khi còn nhìn vào màng hình máy tính. Vô số con chữ chi chít nằm ngay ngắn bên trong bấy giờ lại chướng mắt đến lạ, nó tạo ra một cảm giác bức bối như thế sự tồn tại của mình là một gánh nặng. Bỗng chốc tôi muốn xoá hết chúng đi nhưng lại thôi.
- Alô?
- Anh đây.
- Xe hỏng mất rồi. Em đang ở dưới cổng chào thành phố, anh đến đây đi. - Giọng nàng mệt mỏi.
Tôi hẹn nàng mười lăm phút rồi cúp máy. Gấp laptop lại, tôi chuẩn bị ra ngoài bằng việc mặc quần áo dài tay; mang theo một số cờ lê và tua vít bỏ vào trong cốp xe Future. Tôi dắt xe ra ngoài sân, nghe tiếng của những con ve kêu mãi như không biết mệt; kiểm tra sơ bộ lại xe máy trước khi đến gặp nàng. Mới có thoáng chốc mà người tôi đã ứa mồ hôi; hai bắp chân có thể cảm nhận rõ hơi nóng hắt lên từ mặt sân bê tông. Khi có gió mạnh thổi qua, tôi rùng mình; lá từ mấy chậu hoa tết đã chết khô cũng bị thổi tung lên cao. Nó chao đảo mấy vòng trên thinh không rồi rơi xuống; khi đáp đất lại tiếp tục bị thổi đi, dạt vào bờ tường.
Từ góc nhìn này, khu sân nhà nhỏ nhắn của chúng tôi phản quang nhẹ; cứ như được tráng một lớp dầu mỡ ở khắp nơi. Chúng lấp lánh theo một nghĩa nào đó khi các đám mây tầng thấp chèn qua mặt trời. Tôi nhìn quanh; đồ rằng đâu đó tại thành phố này vừa có một cơn tam bành trút xuống.
Rời khỏi nhà mà không khóa cửa, tôi thong dong lái xe đến chỗ nàng. Vùng ngoại ô này cách thành phố khoảng chừng bốn ki-lô-mét; dù chưa rời khỏi cái bóng của thành phố quá xa, nhưng chung quanh hai bên mặt đường vẫn có đầy vườn rau và đồng ruộng. Mấy kênh suối nhỏ chạy dọc hai bên đường; có thể nghe thấy mồn một tiếng róc rách. Tuy vậy, nó vẫn mang những nét thành thị đặc trưng; phong cách nhà ở hiện đại, lợp mái thái mọc lên xen kẽ nhau. Càng đến gần thành phố, thì những ngôi nhà trở nên san sát nhau hơn; để đổi lấy diện tích ít ỏi, thì người ta chọn cách làm sân nhà nhỏ lại, hoặc thậm chí chúng đã biến mất. Trước cổng nhà nào cũng có đánh số; dường như người ta cho rằng đây là một cuộc trao đổi hợp lý, trái ngược với sân nhà rộng rãi của chúng tôi. Kéo mạnh tay ga, tôi lao đi nhanh hơn; theo đó, không nghe được tiếng róc rách nữa, chỉ còn lại tiếng gió lùa.
Cổng chào thành phố hiện ra mờ mờ với lớp sơn đỏ; càng lại gần thì những vệt bong tróc hiện ra nhiều hơn. Tôi thấy nàng dưới chân cổng chào đang xem điện thoại; tay trái che nắng. Khi còn cách mười mét, thì nàng ngẩng đầu lên nhìn tôi; bờ môi hé mở nụ cười vui sướng. Hàng mi nàng theo đó nheo lại; để lộ ra những nếp nhăn còn non trẻ. Nơi này trũng xuống như thung lũng; hai đầu trước và sau đều là dốc nên rất khó để dắt xe đi. Tôi bảo nàng chờ; rồi lái xe vào thành phố, vượt qua con dốc cao, đi tiếp hai cây số mới thấy tiệm sửa xe. Xong, tôi trở lại đưa xe cho nàng đi làm vì sắp trễ giờ; tay chủ quán chạy theo sau lưng tôi; đôi khi tôi vẫn nhìn ra đằng sau vì sợ ông ta lạc mất.
Tay chủ quán xăm soi chiếc xe tay ga của nàng một lúc; rồi đẩy về tiệm. Ông ta nói rằng mình không mang theo đủ đồ nghề. Ban đầu, chúng tôi gặp khó khăn khi đẩy xe lên dốc; nhưng sau đó là đường bằng phẳng nên khá suôn sẻ. Được một đoạn, tôi trông thấy một quán sửa xe nữa; nó gần hơn nhiều so với quán của ông ta, nhưng vì một lý do nào đấy, sau hai vòng đi về, tôi vẫn không thấy.
Tôi ngồi chờ trên cái ghế nhựa mà tay chủ quán đưa cho. Ông ta kiểm tra hệ thống đánh lửa của xe, rồi lại kiểm tra đường dẫn nguyên liệu, bắt đầu bằng việc tháo rời cốp xe. Vừa làm, ông ta vừa hỏi tôi mấy câu xã giao đơn giản mà mấy tay cắt tóc vẫn hay dùng khi gặp khách mới.
- Em ở đâu, nhìn mặt mũi sáng láng quá, chắc làm sếp lớn nhỉ?
- Em làm nhà báo, nhà ở ngoại ô cách đây chừng ba cây rưỡi, anh ạ.
Ông ta bỏ dở cuộc đối thoại rồi cặm cụi làm. Đôi bàn tay dính đầy vết dầu nhớt, tôi so sánh nó với nền nhà thì nhận ra có thể tay ông ta còn bẩn hơn. Thường thì những cửa hàng bảo trì máy móc như này sẽ đóng một lớp cáu bẩn đen nhèm dưới sàn. Nhưng vì sàn nhà được lát bằng gạch men nên có thể dễ dàng lau chùi, hoặc chỉ đơn giản là ông ta chăm chỉ dọn dẹp hơn mấy người cùng nghề khác.
Tôi chờ quá ba mươi phút vẫn chưa xong. Lúc chuẩn bị gọi xe ôm về nhà thì thằng Tín chạy ngang. Thấy tôi, nó phanh lại ngay, quay đầu xe rồi đi ngược chiều, đáp xe ở lề đường rồi đi vào trong. Chúng tôi rủ nhau uống cà phê ở quán đối diện. Dù chỉ cần đi bộ qua bên kia nhưng nó vẫn chở tôi đi một vòng vượt qua giải phân cách. Cu Tín là người cùng quê ngoại với tôi, chúng tôi cách nhau bốn tuổi. Tôi hăm sáu, còn nó hăm hai. Hai đứa xa nhau mấy hộ gia đình. Kể từ khi chuyển đến đây và được người anh họ giới thiệu, chúng tôi đã làm thân thông qua vài bữa nhậu đơn giản. Hồi đó nó còn lêu lổng, suốt ngày chạy xuôi dọc, ai thuê gì thì làm đó, mà chơi nhiều hơn làm. Có dịp người hàng xóm cạnh bên cần người đào gấp một cây cảnh quý trên núi, thế là chúng tôi gặp nhau.
Tín và tôi cùng gọi cà phê sữa, ngồi nói chuyện vu vơ vì cả hai chẳng có việc gì làm. Nó kể về người bạn gái đang học đại học và việc hai gia đình chuẩn bị làm đám cưới. Nào là nỗi lo về việc không còn được thoải mái sau khi lập gia đình. Hồi đó tôi cũng nghĩ thế. Tín là một thanh niên ưa nhìn, nổi bật với mái tóc cắt ba phân nhuộm đến gốc màu trắng. Cặp lông mày rậm trông rất bặm trợn và sừng sỏ. Có lẽ điểm trừ duy nhất là cặp mắt một mí ti hí kia, với cái mũi tẹt và gò má cao, cộng thêm đôi môi thâm đen, trông thật buồn cười. Nó vừa có nét dữ tợn mà vừa có nét khù khờ dễ bắt nạt. Nhưng dù sao, tôi nghĩ cu Tín là người tốt. Ở chỗ tôi, người ta vẫn có định kiến với hình xăm, còn nó thì nhiều khỏi phải giấu. Đến cả tôi cũng có một hình xăm Mickey ở bắp tay, nhưng nó nhỏ thôi, đến mức nhiều người thân vẫn không biết là tôi xăm hình.
Tín cho đường vào khuấy rồi hỏi tôi, mắt vẫn đăm đăm nhìn ly cà phê sữa.
- Khi nào thì anh với chị có cháu?
- Nào mày có cháu thì đem qua khoe với chị, anh thì chịu rồi. Chị bảo không muốn sinh con.
- Anh có muốn không?
- Có chứ, ít gì cũng làm hai đứa. Mà thôi, không ép chị được.
- Em nghe nói nếu chưa thấy an toàn thì một số phụ nữ không muốn sinh con đâu. - Tín gãi tai.
- Ý mày là anh nguy hiểm hả?
Hai chúng tôi cười to, rồi nó im lặng như thể nhận ra điểm nào đó khác biệt từ tôi.
- Lúc mới quen thì chị cũng đã nói trước cho anh rồi. Cái này là mình đã thoả thuận với người ta, không làm trái được.
- Anh có nói bóng gió không?
- Để làm gì? Thật vớ vẩn.
Cuối cùng thì tay chủ quán hẹn tôi ngày mai lấy xe. Ông ta bảo xe nàng bị trục trặc gì đó về hệ thống hơi, kèm theo một số đề xuất thay thế những linh kiện sắp hỏng. Tôi gật đầu rồi theo Tín về nhà. Hai anh em có cuộc ăn nhậu nhẹ nhàng trước khi trời tối. Hiện là bốn rưỡi chiều, Tín xách cổ con vịt trụi lông bắt tại nhà nó qua chỗ tôi. Rồi lại chạy ngược đi mua bia. Tất nhiên tiền bia này là của tôi. Hẳn là vì ai cũng khen tôi nấu ăn ngon, điều mà đôi khi tôi sẽ tự hào và giấu nhẹm đi việc mình từng làm việc cho một quán ăn nhỏ tại quê nhà. Còn nhớ anh chủ thuê rất tốt với tôi, bao lần vẫn luôn thao thao bất tuyệt về việc đã tâm huyết với mình thế nào. Rằng sẽ đào tạo tôi thành đệ tử để kế nghiệp, cái công việc mà theo lời anh kể đã tốn rất nhiều công sức và tiền bạc để theo học thuở nào. Nhưng rồi vào một ngày mưa gió, sau khi lãnh lương xong, tôi đã đi mất. Ôm theo kỳ vọng mà anh đặt cho tôi, vò nát nó như một tờ giấy rồi quăng đi. Tất nhiên tôi vẫn cảm thấy áy náy trong lòng đến lúc bấy giờ, nhưng chịu thôi. Tôi và anh ta có thể đã không trả giá gì cho hành động trong quá khứ ngoài một chút sự thất vọng về bản thân hoặc đối phương.
- Sao còn nhiều lông thế hả em?
- Người chứ phải máy đâu anh ơi! - Giọng Tín nói vọng vào từ phòng khách.
Chúng tôi bày tiệc dưới nền nhà, ngồi trên chiếu trông vào thành quả cố gắng cả buổi. Có hai món đơn giản là tiết canh và vịt nướng ăn kèm mấy loại rau hái ngoài vườn. Tín bảo nó chuẩn bị kinh doanh cây cảnh và cần vốn để xoay sở. Nó đang ám chỉ mượn tiền nhưng tôi lắc đầu thẳng thừng. Sau đó, tôi lái chuyện sang nghệ thuật, cái mà tôi cho rằng mình ít nhiều hiểu biết ở mức độ nào đó. Cả tôi và Tín đều là người làm nghệ thuật. Dù sao, nghệ thuật cây cảnh hay gà cảnh cũng là nghệ thuật, nên chúng tôi nói chuyện rất hợp nhau. Tôi cũng có đam mê với cây kiểng như nó. Đôi khi hai anh em sẽ chắp tay sau mông rồi bình phẩm một chậu cây đắt tiền được người ta bày biện trong sân nhà. Tín giỏi về cây cỏ, nó có thể biết chính xác loài này là gì, thuộc họ nào, vân vân. Còn tôi thì biết hết những thứ rau ăn được trên đời. Nói là thế, nhưng chỉ tính trong nước thôi.
- Mày có biết là Mác-lê-nin chết vì gì không? - Tôi hỏi.
- Ờ chắc là tuổi già.
Chúng tôi nâng bia, uống một ngụm lớn rồi ăn vịt nướng.
- Ông ta chết vì bị giang mai, người ta đồn là thế.
- Thế còn vợ của ông ta thì sao?
- Anh không biết.
Tín chủ động cắt phần đùi vịt ra rồi bỏ riêng, bảo là để dành cho chị nhà. Chúng tôi uống được đâu đó mười lăm lon thì nó say khướt. Tôi tiễn cu Tín ra tận ngoài cổng rồi đi vào trong. Nhìn lại, nó vừa đi vừa gọi cho ai đó, xe máy thì vẫn để ở sân nhà tôi. Khi đã đi được khá xa thì hình như còn bị trượt chân suýt ngã. Hình dáng to khoẻ của nó ngày nào giờ đây lại mờ nhạt và nhỏ bé, nhân ảnh Tín khuất sau một cây nhãn ven đường. Tôi dọn dẹp nhà cửa rồi chờ nàng về, cho phần mà Tín cắt riêng và cả phần hai anh em ăn chưa hết vào tủ lạnh. Mở tivi nghe bản tin, tôi nhìn ra ngoài đường đã sáng đèn và các phương tiện qua lại. Xa xa, sau lưng những ngôi nhà kia là ruộng lúa. Tôi thiếp đi từ lúc nào không hay.
Khi tôi tỉnh dậy thì cái tivi vẫn nói, chiếu trên đó là phim truyền hình dài tập trinh thám quen thuộc. Tôi nhìn đồng hồ đã chín giờ tối, uể oải kiểm tra điện thoại thấy cuộc gọi nhỡ từ nàng. Tôi cảm thấy cổ họng mình khô khốc, mang cảm giác đó, tôi gọi lại cho nàng trong khi bước đi chao đảo tìm nước uống. Nàng không trả lời, cô tổng đài trả lời thay nàng: số máy bận. Tôi tiếp tục gọi lại sau vài phút nữa nhưng vẫn vậy, sau đó tôi trở lại bàn viết, mở laptop ra và bắt đầu làm việc.
Nửa đêm trời đổ mưa, một cơn mưa mạnh bạo trút nước xuống mặt đất. Từ trong phòng viết, tôi vẫn có thể nghe rõ tiếng gió lùa trên đầu. Chúng đập vào bức tường như muốn lay đổ, mái tôn kêu c-rít c-rít. Rời khỏi phòng, tôi bắt đầu ăn khuya với số thức ăn còn dư trong tủ lạnh. Ngồi trên chiếc ghế gỗ cứng nhắc ở phòng khách và xem một bộ phim có tựa đề tiếng Anh “In Your Eyes”. Có tiếng gõ cửa, nó nhỏ bé, dường như bị cơn mưa át đi nhưng tôi vẫn nghe thấy.
Sau lưng tôi là một cô gái trẻ đang đứng nép mình vào cánh cửa. Tôi chỉ có thể thấy một phần nhỏ cơ thể của cô lộ ra trong điều kiện ánh sáng ngược góc. Thấy tôi, cô bước ra, nhưng phần lớn cơ thể vẫn bị che giấu. Người cô ướt mem, cô mặc bộ đồng phục học sinh cấp ba thường thấy ở bất cứ đâu, khuôn mặt thì thanh tú và trẻ trung đúng với lứa tuổi của mình.
- Em là ai?
Cô không trả lời mà cứ đứng đó nhìn tôi, cả người run lên vì lạnh. Tôi đứng dậy đến bên cửa để nhìn rõ hơn. Dáng người cô nhỏ nhắn và có phần xanh xao, cô thấp hơn tôi một cái đầu, ước chừng chưa được mét sáu. Sau lưng cô, cổng sắt mở toang. Có lẽ vì nhà tôi là căn duy nhất còn sáng đèn nên cô mới vào nương nhờ. Những nhà xung quanh đã tắt hết, duy chỉ có mấy cây trụ đường là còn sáng trưng. Nó sáng bất kể mưa gió hay bão lũ, rất có thể ban ngày cũng vậy nhưng người ta không tài nào nhìn thấy được.
Cô không trả lời tôi mà nhìn vào trong nhà, bên trong bày biện tối giản theo phong cách mà hai vợ chồng tôi thấy là đẹp đẻ. Phòng khách có bộ bàn ghế gỗ và một cái tủ để đồ, chừa hờ ra một khoảng trống đủ lớn để đặt tivi vào. Bên trong nó được chúng tôi cất giữ một số đồ kỷ niệm có giá trị “lịch sử” với chúng tôi. Có bàn thờ ông địa làm bằng đá granite đặt tại góc tường, nó hướng thẳng ra cửa chính. Cuối cùng là một cái rèm bằng chuỗi hạt ngăn cách giữa phòng khách và đường luồng. Tôi hỏi cô có muốn vào trong không thì cô gật đầu, một cú gật chậm rãi và đầy e thẹn.
- Em ăn không?
Tôi hỏi khi cô ngồi xuống, lúc này có thể thấy rõ những vệt bầm tím trên mặt. Cô không trả lời mà tiếp tục gật đầu. Tôi đi xuống bếp lấy cơm cùng thức ăn cho cô, khi trở lại phòng khách thì thấy cô đang nhai nhóp nhép phần ăn chưa hết của tôi trước đó. Tôi đặt đồ ăn mới lên bàn rồi nhìn cô đang cố tỏ vẻ ăn một cách từ tốn. Được một lúc thì cô khóc, cô khóc khi đang ăn, khi không nhìn gì khác ngoài mặt bàn giống như nàng ngày hôm nay. Tôi lại vào trong phòng lục lọi tìm một bộ đồ mà nàng đã không mặc từ lâu rồi đưa cho cô thay. Cô vẫn không đáp mà chỉ gật đầu thoả ý, cô cũng xem tivi trong khi ăn. Tôi đặt quần áo xuống rồi trở về phòng, một ý tưởng nảy ra trong đầu và tôi bắt đầu viết.
Chức năng bình luận chỉ dành cho độc giả đã xác minh tài khoản.
Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập ngay.